Thứ Tư, 21/02/2024 22:40:02



Khởi sắc hàng dệt may xuất khẩu

23/11/2023 14:30:53

Số lượt xem: 2


Hơn ba phần tư chặng đường vừa qua của năm 2023 là giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử của xuất khẩu hàng dệt may và nguyên liệu của Việt Nam. Mặc dù thời điểm này, xuất khẩu dệt may đã phục hồi nhưng tốc độ còn rất chậm, thậm chí chững lại, đặc biệt ở nhóm hàng may mặc. Ðể hoàn thành kế hoạch kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 40 tỷ USD đề ra, đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt triển khai các giải pháp tận dụng tốt các cơ hội, thúc đẩy tăng trưởng,...

Khởi sắc hàng dệt may xuất khẩu
Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu tại Tổng công ty May 10

Tình hình xuất khẩu dệt may hiện không mấy khả quan, các doanh nghiệp vẫn đang nỗ lực tìm kiếm đơn hàng cho những tháng cuối năm và quý đầu năm 2024, đồng thời, hy vọng có thể đón được tín hiệu “ấm” hơn của thị trường thời gian tới.

 

Linh hoạt các giải pháp

 

Năm 2023, xuất khẩu hàng dệt may đối diện nhiều khó khăn bởi những yếu tố bất ổn kinh tế, chính trị kéo theo lạm phát, làm kìm hãm các chỉ tiêu tiêu dùng từ các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, đặc biệt đối với hàng dệt may do không phải nhóm hàng thiết yếu cho nên tỷ lệ sụt giảm rất cao.

 

Tính đến hết tháng 10, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam chỉ đạt hơn 33 tỷ USD, giảm 12,45% so với cùng kỳ năm 2022 (sang tháng 10, tình hình đã khả quan hơn với kim ngạch đạt hơn 3,2 tỷ USD, tăng 5,28% so với tháng 9 và tăng 2,96% so với cùng kỳ năm trước).

 

Hiện Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm hơn 40% thị phần của ngành dệt may Việt Nam, tiếp đến là Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, Trung Quốc,... Nhìn chung, các thị trường xuất khẩu chủ lực của hàng dệt may đều có xu hướng giảm trong thời gian qua, đơn cử như thị trường EU, lượng đơn hàng giảm do các đối tác lớn như Decathlon, Nike, Adidas,… đã giảm mạnh. Ðối với thị trường Mỹ, trong nửa đầu năm 2023, dệt may Việt Nam đã đánh mất 1,3% thị phần tại thị trường này; xuất khẩu dệt may sang Trung Quốc trong 8 tháng năm nay cũng chỉ đạt 7,5 tỷ USD, giảm 11,6% so với cùng kỳ.

 

Ðánh giá chung về thị trường xuất khẩu, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty May Hưng Yên Nguyễn Xuân Dương cho rằng, tình hình thế giới hiện nay đang rất khó khăn, giá dầu, chất đốt, lương thực đều tăng làm suy giảm nhu cầu tiêu dùng, trong đó có hàng dệt may. Ðể vượt khó, đơn vị không chỉ linh hoạt trong điều hành sản xuất mà còn chủ động chuyển đổi các đơn hàng, tăng cường sự hỗ trợ giữa các đơn vị trong tổng công ty nhằm bảo đảm công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động.

 

May Hưng Yên cũng bắt đầu định hướng, nghiên cứu tiếp tục nâng cao năng suất, nhận làm cả đơn hàng chất lượng cao và đơn hàng gia công, bảo hộ lao động, đồng thời, tăng cường đầu tư tự động hóa cao, nâng cao năng lực của người lao động, giảm một số chi phí quản lý vốn,…

 

Tương tự, Tổng Giám đốc công ty cổ phần Dệt may Huế Nguyễn Văn Phong khẳng định: Trước tình hình khó khăn của thị trường, các doanh nghiệp cần đoàn kết, chia sẻ, tránh tình trạng phá giá sản phẩm. Hiện khách hàng rất quan tâm tới chất lượng sản phẩm, giao hàng nhanh, đơn hàng ít, độ phức tạp cao,... nên doanh nghiệp cần quan tâm tới năng suất lao động nhằm đáp ứng yêu cầu. “Muốn nâng cao năng suất lao động, bắt buộc doanh nghiệp phải đầu tư thiết bị tự động hóa cao, sâu và kịp thời hơn, đồng thời, cần quan tâm tới cách thức quản trị, nâng cao tay nghề lao động để tăng sức cạnh tranh trên thị trường” - ông Nguyễn Văn Phong nhấn mạnh.

 

Theo đại diện của Công ty cổ phần Ðầu tư và thương mại TNG, nhờ chủ động áp dụng các giải pháp ứng phó thị trường đã giúp tổng doanh thu của đơn vị trong 10 tháng đạt 6.007 tỷ đồng, hoàn thành 88% kế hoạch năm (riêng tháng 10, doanh thu đạt 570 tỷ đồng, bằng 100% so với cùng kỳ tháng 10/2022). Thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục đầu tư trang thiết bị hiện đại, chủ động nguồn nguyên liệu để gia tăng sản xuất, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

 

Tăng lợi thế cạnh tranh

 

Chủ tịch Hội Dệt may thêu đan Thành phố Hồ Chí Minh Phạm Xuân Hồng thông tin thêm, các đơn hàng hiện có chỉ đủ đáp ứng được từ 85% đến 90% năng lực sản xuất của các nhà máy trên địa bàn. Các đơn hàng trở lại chủ yếu thuộc nhóm nhỏ lẻ, yêu cầu kiểu dáng, thời trang và đơn giá rất cạnh tranh. Ðiều này ngược lại so với thông lệ, bởi thường vào thời điểm cuối năm, các nhà máy đều có đơn hàng và bố trí lịch sản xuất đến giữa năm hoặc hết quý III năm sau. “Mặc dù không đạt được như kỳ vọng, nhưng trong bối cảnh khó khăn như hiện nay, việc đơn hàng hồi phục cũng là tín hiệu đáng mừng, qua đó, giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực, duy trì lao động chờ thị trường phục hồi hoàn toàn”, ông Phạm Xuân Hồng khẳng định.

 

Trong bức tranh “màu xám” của thị trường 10 tháng qua, điểm sáng duy nhất là sự tăng trưởng cao của khối các nước tham gia hiệp định Ðối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) như Nhật Bản, Canada, Australia, New Zealand. Bên cạnh đó, nước ta đã mở thêm được một số thị trường mới tại châu Phi và Trung Ðông, góp phần giúp kim ngạch xuất khẩu của ngành không bị giảm sâu trong bối cảnh sức cầu các thị trường giảm mạnh.

 

Ðánh giá về tín hiệu thị trường, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) Cao Hữu Hiếu nhận định, những tháng đầu năm, doanh nghiệp hết sức căng thẳng khi phải đối diện nhiều khó khăn khách quan. Phần lớn các đơn vị đều ở tình trạng non tải, thậm chí, có đơn vị phải “ăn đong” đơn hàng từng tháng. Giá gia công vẫn ở mức thấp hơn khoảng 30% so với trước đây; sự cạnh tranh về giá giữa các quốc gia xuất khẩu dệt may càng trở nên khốc liệt.

 

Bước sang quý IV, tín hiệu thị trường bắt đầu tích cực hơn khi tần suất khách hàng tới tìm hiểu nguồn hàng và năng lực sản xuất, mặc dù chưa chốt đơn chính thức nhưng là động lực thôi thúc các đơn vị may đẩy mạnh làm mẫu, báo giá cho khách hàng với cơ cấu giá được “tối ưu hóa”, hy vọng sẽ nhận được các đơn hàng cho giai đoạn tới. Ðối với ngành sợi, dấu hiệu cho thấy có thể đã qua giai đoạn “đáy”, một số thị trường có dấu hiệu phục hồi tuy cầu vẫn ở mức thấp, tháng 8 đã có một số đơn vị xấp xỉ hòa vốn, thậm chí đã có đơn vị có lợi nhuận dương.

 

Theo các dự báo, tỷ lệ lạm phát của EU trong tháng 9 mới công bố giảm còn 4,3% (trước đó ở mức 5,2%-5,3%), là mức thấp nhất kể từ tháng 10/2021. Thị trường Trung Quốc cũng có dấu hiệu khởi sắc từ tháng 8, khi chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) của Trung Quốc tăng lên mức 50,2 điểm trong tháng 9 (cao hơn dự báo) từ mức 49,7 điểm trong tháng trước đó. Ðối với thị trường Mỹ, Cục Dự trữ liên bang (FED) cũng có quyết định chưa tăng lãi suất thời điểm này mà lùi xuống cuối năm 2023,... là những yếu tố tích cực giúp kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam có thể tăng lên trong thời gian tới.

 

Do vậy, nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm 2023 của doanh nghiệp phải tận dụng hết các cơ hội thị trường; tổ chức sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động, đáp ứng các đơn hàng nhỏ lẻ, yêu cầu chất lượng cao; xây dựng kế hoạch sản xuất linh hoạt và bố trí nguồn nhân lực phù hợp để tối ưu hóa chi phí lao động. “Phải hành động nhanh chóng và quyết liệt, dựa trên cơ sở suy nghĩ, cân nhắc từ các thông tin đầu vào được cung cấp liên tục, kịp thời. Hành động mới là thứ quyết định, chứ không phải suy nghĩ.

 

Các doanh nghiệp không được lựa chọn bối cảnh thị trường, nhưng hoàn toàn có thể quyết định tâm thế, cách thức sẽ vượt qua năm 2023 và đón nhận năm 2024 thế nào. Với sự chủ động, tự tin dựa trên những thông tin được kiểm soát một cách hiệu quả, chúng ta hoàn toàn có thể đặt niềm tin để đón đầu sự phát triển trở lại với tâm thế mới, năng lực mới và hiệu suất mới” - ông Cao Hữu Hiếu nhấn mạnh.

 

Vì vậy, doanh nghiệp phải nhanh chóng thay đổi, thích ứng với biến động thị trường, trong đó, cần tổ chức các lớp đào tạo kỹ năng nghề, đào tạo nhân lực cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, qua đó nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh đó, phải giữ chân khách hàng bằng cách chấp nhận các đơn hàng nhỏ lẻ, có lợi thế chuyên biệt cũng như đẩy mạnh khai thác thị trường mới, đồng thời, tiết giảm các khoản chi phí nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng.

 

Theo Nhandan



Tin cùng danh mục:

Về đầu trang